Trước thế kỷ 20, vùng đất nay là Hàng Gòn và Long Khánh chủ yếu là rừng nhiệt đới trên đất đỏ, dân cư thưa, với các cộng đồng bản địa sinh sống từ lâu; người Việt khẩn hoang chủ yếu theo các dòng sông, nên vùng đồi xa sông này được khai phá muộn. Những thay đổi lớn về cảnh quan – lô cao su, vườn cây, thị tứ – phần nhiều chỉ đến trong thế kỷ 20.
Tư liệu về giai đoạn trước 1900 ở riêng vùng Long Khánh không nhiều. Bài này vì vậy ghép từ những điều đã được giới nghiên cứu nói chung về miền Đông Nam Bộ, nêu rõ chỗ nào là kiến thức chung của vùng, chỗ nào thuộc riêng Long Khánh, và chỗ nào chỉ nên xem là phỏng đoán. Phần tiền sử – mộ cự thạch và các di chỉ – được viết kỹ ở chuyên mục riêng, ở đây chỉ nhắc tới như điểm mốc.
Một vùng có người ở từ rất sớm
Khảo cổ học cho thấy lưu vực sông Đồng Nai, kể cả vùng đồi đất đỏ, có cư dân từ thời tiền sử. Ở quanh Long Khánh, mộ cự thạch Hàng Gòn và các di chỉ cư trú, xưởng chế tác công cụ được tìm thấy cho thấy con người đã sống, làm việc và chôn cất người chết ở đây từ khoảng hai nghìn năm trước trở lên, theo các tài liệu thường dẫn.
Giữa thời kỳ tiền sử ấy và thời khẩn hoang của người Việt là một khoảng dài mà tư liệu về riêng vùng này rất mỏng. Các nhà nghiên cứu nói đến các nhà nước cổ ở Nam Bộ, đến những tuyến giao thương, nhưng gắn cụ thể với vùng đồi Long Khánh thì phần nhiều vẫn là phỏng đoán.
Điều chắc chắn là vùng đất đỏ này không phải "vùng đất trống" khi người khẩn hoang đến. Rừng có chủ, có người sống theo cách riêng của họ, có lối mòn, có rẫy luân canh. Lịch sử Long Khánh vì thế có nhiều lớp người cùng góp mặt, không bắt đầu từ một mốc khai phá duy nhất.
Cư dân bản địa của rừng miền Đông
Miền Đông Nam Bộ là nơi sinh sống lâu đời của nhiều cộng đồng nói các ngôn ngữ thuộc nhóm Môn – Khmer, như người Chơro (còn gọi Châu Ro), người Mạ, người Xtiêng. Theo các tài liệu dân tộc học thường dẫn, người Chơro gắn bó với vùng đất Đồng Nai, nhất là vùng đồi rừng phía đông của tỉnh – khu vực bao gồm Xuân Lộc, Long Khánh và lân cận.
Đời sống truyền thống của các cộng đồng này gắn với rừng: làm rẫy luân canh, săn bắt, hái lượm, khai thác lâm sản. Rẫy được phát, đốt, trỉa hạt lúa, bắp, rồi để rừng tái sinh sau vài vụ. Làng thường nhỏ, nằm gần nguồn nước. Những kỹ năng về rừng, về cây thuốc, về mùa vụ của họ là kho tri thức địa phương mà người đến sau học hỏi rất nhiều.
Khi rừng bị khai thác dần để lập đồn điền rồi lập vườn trong thế kỷ 20, nếp sống ấy thay đổi mạnh. Ngày nay cộng đồng Chơro vẫn sinh sống ở Đồng Nai, giữ một số lễ hội, nghề truyền thống. Chuyên mục con người và văn hoá của trang viết kỹ hơn về các cộng đồng cư dân trong vùng; ở đây chỉ cần ghi nhận họ là những người có mặt trên vùng đất này từ trước.
Đường khẩn hoang của người Việt đi theo sông
Người Việt vào khai phá vùng Đồng Nai – Gia Định từ khoảng thế kỷ 17. Mốc thường được nhắc là năm 1698, khi chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý, lập phủ Gia Định với dinh Trấn Biên ở vùng Biên Hòa. Từ đó, các làng Việt hình thành dày dần dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và các nhánh sông.
Lý do đi theo sông rất thực tế: sông là đường giao thông, là nguồn nước, là đất phù sa để trồng lúa. Vùng đồi đất đỏ như Long Khánh ở xa các con sông lớn, rừng rậm, nhiều thú dữ, nguồn nước mùa khô khó khăn, lại không thích hợp trồng lúa nước. Những yếu tố đó khiến người khẩn hoang chưa tràn lên đây trong các thế kỷ đầu.
Trong thời Nguyễn, vùng Long Khánh thuộc địa hạt Biên Hòa. Sổ sách có ghi tên các tổng, các thôn, nhưng ở vùng đồi xa xôi này, dân cư người Việt còn thưa, thường là những nhóm nhỏ làm rẫy, khai thác lâm sản, buôn bán với cư dân bản địa.
Vì sao vùng đồi đất đỏ bị "bỏ quên" lâu như vậy
Thiếu nước vào mùa khô. Đất bazan thấm nước nhanh, không có sông lớn chảy qua, mùa khô kéo dài nhiều tháng. Trước khi có kỹ thuật đào giếng sâu và hồ chứa, sống quanh năm ở đây rất khó.
Không trồng được lúa nước. Người khẩn hoang thời ấy lấy lúa làm gốc. Đất đồi chỉ trồng được lúa rẫy năng suất thấp, nên không hấp dẫn bằng đồng bằng ven sông.
Rừng rậm và bệnh tật. Rừng nhiệt đới nhiều muỗi, sốt rét là nỗi ám ảnh của người mới đến. Phải đến khi có thuốc, có tổ chức khai hoang quy mô lớn, rừng mới bị đẩy lùi.
Giá trị của đất đỏ chưa được nhận ra. Đất bazan tốt cho cây lâu năm như cao su, cà phê, cây ăn trái. Nhưng những cây này chỉ thành hàng hoá lớn khi có thị trường và đường vận chuyển – điều chỉ xuất hiện rõ trong thế kỷ 20.
Bước ngoặt cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20
Nửa sau thế kỷ 19, Pháp chiếm Nam Kỳ, trong đó có Biên Hòa. Đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, người Pháp nhận ra đất đỏ miền Đông rất hợp với cây cao su – loại nguyên liệu đang có nhu cầu rất lớn trên thế giới. Các công ty và chủ đồn điền xin cấp đất, phát rừng, trồng cao su trên diện rộng.
Cùng với đồn điền là đường sá, nhà máy sơ chế mủ, khu nhà cho người làm công, và dòng người lao động được đưa đến từ nhiều nơi. Vùng Long Khánh chuyển mình từ rừng thành vùng đồn điền trong vài thập niên – một thay đổi nhanh và mạnh chưa từng có trong lịch sử vùng đất.
Từ đây, câu chuyện của Hàng Gòn bước vào giai đoạn có nhiều tư liệu hơn: con đường đi Bà Rịa, việc phát hiện mộ cự thạch, các lô cao su. Những giai đoạn đó được viết ở các bài khác trong chuyên mục lịch sử và tên gọi của trang.
Đọc lịch sử xa của vùng: nguồn và giới hạn
Khảo cổ học. Là nguồn chắc chắn nhất cho thời tiền sử: di tích, hiện vật, niên đại đo bằng phương pháp khoa học. Nhưng khảo cổ chỉ cho biết những gì còn sót lại dưới đất; nó ít khi cho biết tên người, tên cộng đồng hay ngôn ngữ của họ.
Sách địa chí thời Nguyễn. Các bộ sách như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả sông núi, sản vật, phong tục vùng Biên Hòa – Gia Định đầu thế kỷ 19. Đây là nguồn quý, nhưng vùng đồi xa xôi như Long Khánh thường chỉ được nhắc lướt, và địa danh xưa không dễ khớp với địa danh nay.
Tư liệu thời Pháp. Hồ sơ cấp đất đồn điền, bản đồ địa hình, báo cáo khảo sát của người Pháp ghi lại khá chi tiết vùng đất đỏ đầu thế kỷ 20. Phần lớn tư liệu này lưu ở các kho lưu trữ, cần người đọc được tiếng Pháp và có kinh nghiệm đối chiếu.
Dân tộc học và truyền khẩu. Lời kể của cộng đồng bản địa và của các gia đình đến sớm giúp hình dung đời sống, nhưng cần đối chiếu nhiều nguồn vì trí nhớ dễ pha trộn qua các thế hệ.
Những gì biết chắc và những gì còn mờ
Viết về lịch sử xa của một vùng nhỏ dễ rơi vào bịa đặt hoặc tô vẽ. Bảng dưới phân loại các nhận định về Long Khánh trước thế kỷ 20 theo mức độ chắc chắn, để bạn dùng thông tin cho đúng:
| Nhận định | Mức độ | Căn cứ |
|---|---|---|
| Có cư dân thời tiền sử ở vùng Long Khánh | Chắc chắn | Di tích, di chỉ khảo cổ đã được nghiên cứu |
| Cộng đồng bản địa nói ngôn ngữ Môn – Khmer sống ở miền Đông | Chắc chắn | Dân tộc học, sử liệu |
| Người Chơro gắn bó với vùng Đồng Nai phía đông | Được thừa nhận rộng rãi | Tài liệu dân tộc học thường dẫn |
| Người Việt khai phá vùng đồi đất đỏ muộn hơn vùng ven sông | Được thừa nhận rộng rãi | Điều kiện tự nhiên, sử liệu khẩn hoang |
| Tên làng, tên thôn cụ thể thời Nguyễn ở Hàng Gòn | Chưa rõ | Cần đối chiếu sổ sách gốc |
| Mối liên hệ cụ thể giữa cư dân xây mộ cự thạch và các cộng đồng sau này | Còn tranh luận | Chưa có bằng chứng quyết định |
Khi đọc hay chia sẻ chuyện "ngày xưa ở Hàng Gòn", nên chú ý xem người kể đang nói điều thuộc hàng nào trong bảng. Một câu chuyện hấp dẫn không làm nó trở thành sự thật.
Dấu vết của thời trước còn thấy được hôm nay
Dù rừng đã gần như không còn, vài dấu vết của thời xa vẫn có thể nhận ra. Địa danh là một: những chữ "bàu", "suối", "trảng" trong tên đất cho thấy cách người xưa nhìn địa hình – chỗ trũng, chỗ có nước, chỗ đất trống giữa rừng. Ở Long Khánh, các tên Bàu Sen, Bàu Trâm, Suối Tre là ví dụ.
Thực vật là dấu vết thứ hai. Một số cây rừng bản địa như dầu, sao, gõ, căm xe còn sót lại lẻ tẻ trong vườn, ven đường, quanh chùa, đình, nhà thờ. Những cây to, già trong khuôn viên công trình cũ thường là cây được giữ lại từ thời khai phá.
Dấu vết thứ ba là chính đất. Màu đỏ của đất bazan, những tảng đá ong, đá bazan lộ ra khi đào móng, và đặc biệt là những tấm đá granit lớn ở khu mộ cự thạch – vốn không có sẵn ở vùng đất đỏ – nhắc rằng nơi đây có một lịch sử địa chất và lịch sử con người dài hơn rất nhiều so với vài trăm năm gần đây.
Câu hỏi thường gặp
Long Khánh có từ thời nào?
Vùng đất Long Khánh có người ở từ thời tiền sử theo bằng chứng khảo cổ. Còn tên Long Khánh với tư cách đơn vị hành chính xuất hiện muộn hơn nhiều, nổi bật nhất là tỉnh Long Khánh lập vào giữa thập niên 1950.
Trước khi người Việt đến, ai sống ở vùng Long Khánh?
Theo các tài liệu dân tộc học thường dẫn, vùng rừng miền Đông Nam Bộ là nơi sinh sống của các cộng đồng nói ngôn ngữ Môn – Khmer như người Chơro, Mạ, Xtiêng; người Chơro gắn bó nhiều với vùng Đồng Nai phía đông.
Vì sao Long Khánh không có làng cổ như vùng ven sông?
Vì người khẩn hoang ban đầu đi theo sông để có nước và đất trồng lúa. Vùng đồi đất đỏ xa sông, thiếu nước mùa khô, rừng rậm nên dân cư người Việt đến muộn, làng xóm chủ yếu hình thành trong thế kỷ 20.
Có thể tìm tư liệu về Long Khánh thời Nguyễn ở đâu?
Các bộ sách địa chí xưa về Gia Định, Biên Hòa, sách địa chí tỉnh Đồng Nai và tư liệu tại thư viện, bảo tàng tỉnh là nguồn chính. Thông tin về riêng vùng Long Khánh thời này thường ít và cần đọc thận trọng.
Người xây mộ cự thạch có phải tổ tiên của cư dân bản địa sau này không?
Câu hỏi này còn để ngỏ. Giới nghiên cứu chưa có bằng chứng đủ mạnh để nối thẳng chủ nhân di tích với một cộng đồng cụ thể sau này. Cách nói thận trọng là di tích thuộc về cư dân cổ của lưu vực Đồng Nai.