HangGon.comHàng Gòn
Con người và văn hoá

Dân cư Hàng Gòn qua các thời kỳ: ai đã đến lập nghiệp trên đất đỏ phía nam Long Khánh

Hàng Gòn là đất của nhiều lớp người: đồng bào bản địa, phu cao su, người di cư 1954, dân kinh tế mới sau 1975 và người mới đến gần đây. Mỗi lớp để lại dấu gì.

Wide view of a red dirt lane between rubber trees and small houses at early morning, an elderly man walking a bicycle away from the camera, soft mist, Dong Nai countryside

Người sống ở phường Hàng Gòn hôm nay là kết quả của nhiều đợt người đến lập nghiệp chồng lên nhau, không phải một cộng đồng thuần nhất có gốc từ một nơi. Theo cách kể quen thuộc của người già trong vùng, có thể tách ra năm lớp: đồng bào bản địa sống với rừng từ trước; người làm công trong các đồn điền cao su thời Pháp; người miền Bắc di cư sau năm 1954; người đi kinh tế mới và lập nghiệp sau năm 1975; và lớp người mới đến trong hai, ba chục năm gần đây vì đất vườn, vì việc làm ở các khu công nghiệp Đồng Nai.

Phường Hàng Gòn hiện nay (từ tháng 7/2025) gồm xã Hàng Gòn và phường Xuân Tân của thành phố Long Khánh cũ, nên bài này nói chung cho cả hai vùng. Hiểu các lớp người giúp bạn đọc được vì sao trong một con hẻm có nhà nói giọng Bắc, nhà nói giọng Quảng, nhà nói giọng miền Tây; vì sao cạnh một ngôi chùa lại có nhà thờ; và vì sao món ăn sáng ở đây vừa có bánh cuốn vừa có hủ tiếu.

Trước khi có làng: rừng thưa đất đỏ và người bản địa

Vùng đất phía nam Long Khánh xưa là rừng thưa, rừng khộp xen bưng trũng trên nền đất đỏ bazan. Đây là không gian sống lâu đời của các cộng đồng bản địa vùng Đông Nam Bộ, trong đó ở Đồng Nai thường được nhắc là người Chơro, người Mạ, người Stiêng. Họ làm rẫy, săn bắt, hái lượm, lấy măng, lấy mật, và di chuyển theo mùa rẫy chứ không định cư thành làng đông đúc như người Việt sau này.

Ngày nay đồng bào bản địa ở Đồng Nai tập trung nhiều hơn ở các vùng phía đông và phía bắc tỉnh, không phải ở trung tâm Hàng Gòn. Nhưng dấu vết của lớp người đầu tiên vẫn còn trong tên gọi, trong thói quen hái rau rừng, lấy măng, và trong ký ức của những gia đình đến sớm, vốn học cách sống với rừng từ những người đi trước.

Một điều cần tách bạch: khu di tích mộ cự thạch Hàng Gòn thuộc về thời tiền sử rất xa, giới khảo cổ không gắn nó trực tiếp với một tộc người cụ thể đang sống hôm nay. Chuyện khảo cổ có mục riêng trên trang; ở đây chỉ nói về những người đang sống và những người đã sống trên đất này trong vài trăm năm gần.

Thời đồn điền: phu cao su từ miền Bắc, miền Trung

Đầu thế kỷ 20, người Pháp mở các đồn điền cao su trên dải đất đỏ Đông Nam Bộ, trong đó có vùng Long Khánh. Rừng bị khai quang thành những lô cao su thẳng tắp, và cần một lượng lớn nhân công. Nguồn nhân công chủ yếu là người mộ từ các tỉnh đông dân ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ký giao kèo đi làm phu nhiều năm. Ký ức về "phu công-tra" với giờ cạo mủ từ khi trời còn tối, những dãy nhà lá dài, bệnh sốt rét, đã đi vào văn học và trí nhớ nhiều gia đình.

Hết giao kèo, không ít người ở lại, lấy vợ lấy chồng tại chỗ, khai thêm mảnh vườn quanh nhà. Đây là lớp người Bắc, người Trung đầu tiên trên đất Long Khánh, sớm hơn đợt di cư 1954 cả mấy chục năm. Con cháu của họ phần lớn đã nói giọng Nam pha, nhưng trong nhà vẫn giữ những thói quen như ăn cà muối, giữ ngày giỗ theo lệ quê cũ.

Cao su vì vậy không chỉ là cây kinh tế mà là thứ đã định hình cách người ta tụ cư: nhà nằm theo đường lô, xóm hình thành quanh khu nhà công nhân, chợ nhỏ mọc ở chỗ giao đường. Bạn đi trong vùng sẽ thấy nhiều xóm vẫn bám theo trục đường xuyên lô cao su như thế.

Sau năm 1954: những xóm người Bắc

Đợt di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954 đưa hàng chục vạn người đến vùng Biên Hoà – Đồng Nai. Phần lớn là người Công giáo đi theo giáo xứ, ngoài ra có cả người không theo đạo. Chính quyền thời đó bố trí nhiều khu định cư dọc quốc lộ 1 và các trục đường mở rừng, trong đó có vùng Long Khánh – Xuân Lộc. Người đến được cấp đất, tự phát rừng làm nhà, trồng lúa rẫy, rau màu rồi dần chuyển sang cây lâu năm.

Đặc điểm dễ nhận của các xóm người Bắc là tổ chức cộng đồng chặt: nhà thờ hoặc đình, chùa ở giữa, các hội đoàn, sinh hoạt theo lịch lễ, giữ giọng Bắc qua hai, ba thế hệ. Đến nay, ở vùng Long Khánh nói chung, bạn vẫn dễ gặp người lớn tuổi nói giọng Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam. Bài riêng trên trang nói kỹ hơn về nếp sống của những xóm này.

Sau năm 1975: kinh tế mới và người tìm đất

Sau năm 1975, Đồng Nai là một trong những nơi đón nhiều người đi xây dựng vùng kinh tế mới, từ thành phố ra và từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào. Đất rừng, đất cao su cũ được chia thành lô cho hộ gia đình. Những năm đầu rất khó: thiếu nước, thiếu điện, đất mới khai hoang chưa quen cây gì hợp. Nhiều hộ bỏ về, nhiều hộ bám lại và trở thành chủ vườn chôm chôm, sầu riêng sau này.

Cùng giai đoạn đó, người miền Trung, nhất là các tỉnh ven biển, cũng vào theo đường người quen dắt người quen. Một gia đình vào trước, làm ăn được thì gọi họ hàng vào sau. Kiểu di cư theo dây họ hàng này giải thích vì sao có những xóm gần như cả xóm cùng một quê gốc, và vì sao giỗ chạp, đám cưới ở đó vẫn mang lệ của quê cũ.

Lớp người này mang theo kỹ năng làm vườn rất khác nhau. Người từ đồng bằng sông Hồng quen làm lúa, rau màu; người miền Trung quen cây chịu hạn; người từ miền Tây lên mang kinh nghiệm trồng cây ăn trái. Sự pha trộn ấy góp phần biến Long Khánh thành vùng trái cây có tiếng.

Năm lớp người và dấu vết còn thấy hôm nay

Bảng dưới gom lại các lớp dân cư theo cách người địa phương thường kể. Mốc thời gian là ước lệ, không phải số liệu điều tra dân số:

Lớp ngườiĐến khi nàoDấu vết dễ thấy
Đồng bào bản địaTừ rất lâu, trước khi người Việt khai pháThói quen hái rau rừng, lấy măng; tên gọi một số nơi; ký ức các gia đình đến sớm
Phu cao suĐầu đến giữa thế kỷ 20Xóm bám theo lô cao su, nhà nối dãy, nghề cạo mủ truyền đời
Người di cư 1954Sau năm 1954Giọng Bắc, xóm quanh nhà thờ hoặc chùa, món ăn miền Bắc
Kinh tế mới, người tìm đấtSau năm 1975Xóm cùng quê gốc, vườn chôm chôm, sầu riêng, lệ giỗ quê cũ
Người mới đếnKhoảng hai, ba chục năm gần đâyNhà vườn của người thành phố, công nhân thuê trọ, cửa hàng dịch vụ dọc quốc lộ

Phần lớn gia đình ở Hàng Gòn hôm nay mang dấu của hơn một lớp: ông bà người Bắc, cha mẹ lấy nhau ở đây, con cái học và làm ở Biên Hoà hay TP.HCM.

Người mới đến gần đây và chuyện "xã thành phường"

Từ khi Long Khánh lên thị xã rồi thành phố, đất vườn quanh trung tâm thu hút người ở nơi khác đến mua làm nhà vườn cuối tuần hoặc về hưu. Cùng lúc, các khu công nghiệp Đồng Nai kéo theo người lao động thuê trọ. Dọc quốc lộ 56 mọc thêm cửa hàng vật tư, quán ăn, tiệm sửa xe do người từ nơi khác đến mở.

Lớp người mới thường sống xen với dân gốc chứ không thành xóm riêng. Họ mang đến nhu cầu mới: quán cà phê kiểu thành phố, lớp học thêm, dịch vụ giao hàng. Người cũ thì mang lại cho họ những thứ không mua được, như biết mùa nào trái gì ngon, biết đường tắt xuyên lô cao su, biết nhà nào giỏi ghép cây.

Việc xã Hàng Gòn và phường Xuân Tân nhập thành phường Hàng Gòn từ tháng 7/2025 không làm đổi dân cư, nhưng đổi cách người ta xưng địa chỉ. Người lớn tuổi vẫn nói "dưới Hàng Gòn", "trên Xuân Tân" theo thói quen, người trẻ dần quen gọi chung một tên phường.

Xã cũ và phường cũ: hai nhịp sống trong một phường mới

Dù cùng nằm trong phường Hàng Gòn từ tháng 7/2025, hai phần đất cũ có nhịp sống khác nhau rõ. Phần thuộc phường Xuân Tân cũ gần khu trung tâm Long Khánh hơn, nhà cửa san sát hơn, nhiều hộ buôn bán, làm dịch vụ, đi làm công ăn lương. Phần thuộc xã Hàng Gòn cũ rộng hơn, nhà thưa hơn, vườn cây chiếm phần lớn diện tích, nhịp sống còn theo mùa trái, mùa cạo mủ.

Khác biệt này kéo theo khác biệt trong sinh hoạt cộng đồng. Ở khu đông dân, người ta gặp nhau ở chợ, quán cà phê, sân trường; ở khu vườn, người ta gặp nhau ở đám giỗ, ở ngày hái trái, ở buổi đổi công làm cỏ. Người ở khu vườn quen biết nhau theo dòng họ và theo xóm lâu đời, người ở khu đông dân quen nhau theo tổ dân phố và theo nghề.

Hiểu được điều này giúp bạn tránh nhìn cả phường như một khối. Khi ai đó nói "người Hàng Gòn hiền, sống chậm", họ thường đang nghĩ đến khu vườn cũ; khi nói "Xuân Tân buôn bán sầm uất", họ nghĩ đến dãy nhà mặt đường. Cả hai đều đúng, ở những góc khác nhau của cùng một phường.

Nhận ra lớp dân cư qua những dấu hiệu đời thường

Không cần hỏi gốc gác, bạn vẫn có thể đoán khá đúng một gia đình đến từ lớp người nào nhờ vài dấu hiệu quen thuộc. Đây là quan sát văn hoá, không phải quy luật:

  • Luống rau quanh nhà. Rau ngót, tía tô, kinh giới, cà pháo thường là nhà gốc Bắc; rau răm, ngò gai, húng quế, bông điên điển hay gặp ở nhà gốc miền Tây; khổ qua, mướp đắng, rau lang trồng kỹ là thói quen nhiều nhà gốc miền Trung.
  • Cách gọi bữa ăn. "Ăn cơm chưa" là câu chào chung, nhưng "mời bác xơi nước" nghe là biết nhà có ông bà người Bắc.
  • Ngày giỗ đông nhất trong năm. Nhà gốc Bắc thường đông nhất vào giỗ tổ họ; nhà gốc miền Trung coi trọng lễ tảo mộ, chạp mả cuối năm; nhà gốc Nam thường tụ họp lớn vào ngày giỗ cha mẹ.
  • Kiểu nhà cũ. Nhà ba gian mái ngói thấp, sân gạch rộng là dấu xóm Bắc; nhà gỗ có hàng hiên, cửa bản khoa là kiểu Nam; nhà tường thấp, mái tôn kéo dài làm chỗ phơi là kiểu nhà vườn dựng nhanh thời khai hoang.
  • Nghề phụ. Làm tương, muối dưa, gói bánh chưng bán Tết thường là nghề phụ của nhà gốc Bắc; làm nước mắm, mắm cá, bánh tráng là của nhà gốc miền Trung.

Những dấu hiệu này mờ dần qua từng thế hệ, nhưng vẫn đủ rõ để người lớn tuổi trong vùng đoán gốc gác nhau chỉ sau vài câu chuyện.

Câu hỏi thường gặp

Người Hàng Gòn gốc ở đâu nhiều nhất?

Không có một quê gốc chiếm áp đảo. Theo cách người địa phương kể, người gốc Bắc (qua đợt phu cao su và đợt di cư 1954) và người gốc miền Trung khá đông, xen với người Nam bản địa và người từ miền Tây lên. Muốn biết rõ một xóm, cách tốt nhất là hỏi chuyện người lớn tuổi trong xóm đó.

Có số liệu chính xác về tỷ lệ các nhóm dân cư ở phường Hàng Gòn không?

Các số liệu điều tra dân số thường công bố theo dân tộc, tôn giáo, độ tuổi chứ không theo quê gốc. Vì vậy những câu như "một nửa là người Bắc" chỉ là cảm nhận, không nên coi là số liệu. Thông tin dân số chính thức của phường sau sáp nhập cần xem ở công bố của cơ quan thống kê.

Đồng bào Chơro còn sống ở Hàng Gòn không?

Cộng đồng Chơro ở Đồng Nai hiện tập trung nhiều ở các địa bàn phía đông và phía bắc tỉnh. Ở Hàng Gòn có thể có các gia đình người dân tộc sinh sống xen kẽ, nhưng không phải là nơi tụ cư chính. Trang có bài riêng về đồng bào bản địa vùng Đồng Nai.

Vì sao ở Hàng Gòn có cả nhà thờ lẫn chùa gần nhau?

Vì dân cư đến từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nhóm mang theo nếp sinh hoạt cộng đồng của mình. Người di cư theo giáo xứ thường lập nhà thờ trước, người theo đạo Phật hoặc thờ cúng ông bà lập chùa, miếu. Các công trình mọc lên theo xóm nên đứng gần nhau là chuyện bình thường.

Người mới chuyển đến Hàng Gòn có dễ hoà nhập không?

Nhìn chung là dễ, vì phần lớn dân ở đây cũng là người từ nơi khác đến chỉ cách vài thế hệ. Chào hỏi hàng xóm, tham gia sinh hoạt tổ dân phố, góp mặt khi xóm có việc hiếu hỷ là cách nhanh nhất để được coi là người trong xóm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.