HangGon.comHàng Gòn
Con người và văn hoá

Giọng nói và cách xưng hô ở Long Khánh – Hàng Gòn: vì sao một xóm nghe ba giọng

Người Hàng Gòn nói giọng gì, vì sao cùng xóm có giọng Bắc, giọng Quảng, giọng Nam; từ ngữ riêng của nghề vườn, nghề cao su và cách xưng hô cho người mới đến.

Three neighbors seen from the side chatting at a small roadside coffee stall with plastic stools under a rambutan tree, morning light, red dust road behind them

Người Hàng Gòn không có một giọng riêng thống nhất. Giọng phổ biến nhất ở thế hệ trẻ là giọng Nam Bộ miền Đông, nhưng trong cùng một xóm vẫn nghe được giọng Bắc của người gốc đồng bằng sông Hồng, giọng của các tỉnh miền Trung, và giọng miền Tây của người từ đồng bằng lên. Đó là hệ quả trực tiếp của lịch sử di dân nhiều lớp trên vùng đất đỏ này.

Bài này giải thích vì sao các giọng cùng tồn tại, giọng nói biến đổi ra sao qua các thế hệ, những từ ngữ riêng của nghề vườn và nghề cao su mà người ngoài hay thắc mắc, và cách xưng hô để người mới đến không bị lúng túng.

Giọng miền Đông: nền chung của người trẻ

Giọng Nam Bộ ở miền Đông, trong đó có vùng Long Khánh, gần với giọng TP.HCM hơn là giọng miền Tây sông nước. Đặc điểm dễ nhận là không phân biệt rõ dấu hỏi và dấu ngã, phụ âm cuối "n" và "ng", "t" và "c" nhiều khi phát âm giống nhau, âm "v" thường đọc gần như "d". Nhịp nói tương đối nhanh, thẳng, ít từ đệm kéo dài như ở miền Tây.

Trẻ em ở Hàng Gòn, dù gốc Bắc, gốc Trung hay gốc Nam, đi học cùng trường, chơi cùng nhóm bạn, xem cùng chương trình truyền hình, nên phần lớn lớn lên với giọng này. Giọng miền Đông vì vậy là nền chung, là giọng người ta dùng khi nói chuyện với người ngoài, ở chợ, ở cơ quan, ở trường học.

Tuy vậy, giọng miền Đông ở Long Khánh vẫn có chỗ khác giọng Sài Gòn. Người lớn tuổi hay dùng nhiều từ địa phương liên quan đến vườn, rẫy, rừng; cách nói chậm hơn, nhiều từ "nghen", "hen", "đa" ở cuối câu hơn. Người từ TP.HCM về nghe thấy quen mà vẫn thấy có chút khác.

Giọng Bắc, giọng Trung: còn trong nhà, còn trong xóm

Ở những xóm có nhiều gia đình gốc Bắc, đặc biệt là các xóm hình thành sau năm 1954, giọng Bắc vẫn được thế hệ ông bà giữ gần như nguyên vẹn, có cả những nét riêng của từng tỉnh. Người Nam Định, Thái Bình có cách phát âm khác người Hà Nội; người Ninh Bình, Thanh Hoá có thanh điệu riêng. Thế hệ cha mẹ thường nói giọng Bắc trong nhà và giọng Nam hoặc giọng pha khi ra ngoài.

Giọng miền Trung có mặt ở nhiều gia đình đến lập nghiệp sau năm 1975, từ các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nghệ An, Hà Tĩnh. Giọng Quảng với âm "a" đọc thành gần "ô", giọng Nghệ Tĩnh với thanh điệu nặng, là những giọng người trong vùng nhận ra ngay. Nhiều người gốc Trung giữ giọng rất bền, kể cả ở thế hệ thứ hai.

Điều thú vị là người lớn tuổi trong vùng thường nghe hiểu cả ba giọng một cách tự nhiên, vì đã sống cạnh nhau mấy chục năm. Một bà cụ gốc Bắc vẫn trò chuyện rôm rả với ông hàng xóm gốc Quảng mỗi người một giọng mà không ai thấy cần đổi.

Một đồ vật, nhiều cách gọi

Trong một gia đình hay một xóm ở Hàng Gòn, cùng một thứ có thể được gọi bằng nhiều từ. Bảng dưới là những cặp hay gặp nhất:

Thứ được gọiCách gọi miền NamCách gọi miền BắcGhi chú ở Hàng Gòn
Đồ đựng cơmchénbátNgười trẻ nói "chén", ông bà gốc Bắc vẫn nói "bát"
Trái câytráiquả"Trái" phổ biến; "quả" còn trong nhà gốc Bắc
Con vật nuôi lấy thịtheolợn"Heo" phổ biến ở chợ, "lợn" còn trong xóm Bắc
Ngũ cốc hạt vàngbắpngôGần như ai cũng nói "bắp"
Đồ uống nướclycốc"Ly" phổ biến; quán cà phê luôn nói "ly"
Dụng cụ múcmuỗngthìaCả hai đều nghe, "muỗng" nhiều hơn
Cá đồng thân dài, đầu dẹtcá lóccá quảỞ chợ gọi "cá lóc"
Đi vào trongvôvàoNgười gốc Nam và Trung đều nói "vô"

Người mới đến không cần lo dùng sai từ; người địa phương hiểu cả hai. Nhưng nói theo cách của người đối diện là một cách thể hiện thiện chí rất được quý.

Từ ngữ của nghề vườn và nghề cao su

Vùng đất đỏ có vốn từ riêng gắn với công việc hằng ngày. Ở nghề cao su, người ta nói "lô" để chỉ một khu cây, "phần cây" là số cây một người phụ trách, "miệng cạo" là đường cạo trên thân cây, "mủ nước" là mủ lỏng thu trong chén, "mủ đông", "mủ dây" là các dạng mủ đã đông lại. "Trút mủ" là đổ mủ từ chén vào thùng. Người ngoài nghe thường không hiểu, nhưng trong xóm cao su đó là ngôn ngữ thường ngày.

Ở nghề vườn, người ta nói "vô mùa" khi trái bắt đầu chín rộ, "cuối mùa", "nghịch mùa" hoặc "trái vụ" khi trái ra không đúng mùa chính. "Xử lý ra hoa" là các biện pháp làm cây ra hoa theo ý muốn. "Ăn trái" nghĩa là cây đã cho thu hoạch. "Bao vườn" hoặc "mua đứng vườn" là cách thương lái mua trọn trái cả vườn từ khi trái còn non. Những từ này rất hay xuất hiện trong câu chuyện ở quán cà phê.

Người lớn tuổi còn dùng những từ gốc rừng rẫy như "phát", "đốt", "chọc lỗ", "tỉa hột", "đất lâm", "rẫy cũ". Lớp từ này đang mất dần khi rừng không còn, rẫy chuyển thành vườn. Ghi lại vốn từ ấy là việc có giá trị với ai quan tâm đến lịch sử địa phương.

Xưng hô: anh Hai hay anh Cả, bác hay chú

Khác biệt dễ gây lúng túng nhất giữa các nhóm là cách gọi thứ bậc trong nhà. Người Nam gọi con trưởng là "Hai", con thứ hai là "Ba", không có "Cả". Người Bắc gọi con trưởng là "Cả", "anh Cả", "chị Cả". Ở Hàng Gòn, cả hai cách đều có; nếu không chắc, gọi bằng tên kèm "anh", "chị", "cô", "chú" là an toàn nhất.

Với người lớn tuổi hơn cha mẹ mình, người Bắc phân biệt "bác" (lớn hơn cha mẹ) và "chú", "cô" (nhỏ hơn). Người Nam dùng "bác" ít hơn, thường gọi "chú", "cô", "dì", "ông", "bà" theo tuổi tác áng chừng. Gọi một người gốc Bắc là "chú" khi họ lớn tuổi hơn cha mình có thể bị họ nhẹ nhàng sửa lại thành "bác".

Cách đáp lời cũng khác: người Nam đáp "dạ", người Bắc đáp "vâng" hoặc "dạ vâng". Ở Hàng Gòn, "dạ" phổ biến ở mọi nhóm, thế hệ trẻ gần như chỉ dùng "dạ". Với người lớn tuổi, đáp "dạ" kèm cúi đầu nhẹ là lễ phép trong mọi văn hoá vùng miền.

Một chuyện nhỏ nữa là cách gọi vợ chồng người khác. Người Nam hay gọi theo tên chồng, như "chị Tư" là vợ "anh Tư", hoặc gọi theo tên con đầu. Người Bắc gọi theo tên con nhiều hơn, như "bố cu Tý", "mẹ cái Hoa" trong thế hệ cũ. Ở Hàng Gòn, gọi theo thứ bậc kiểu Nam phổ biến nhất ngoài chợ; trong xóm Bắc, cách gọi theo tên con vẫn còn nghe ở người lớn tuổi.

Những hiểu lầm thường gặp giữa các giọng

"Nói thẳng" không phải "nói nặng". Người miền Đông nói thẳng, ngắn, ít rào đón. Người mới từ miền Bắc vào có khi thấy như bị nói trống không. Thật ra đó là thói quen giao tiếp, không có ý thiếu tôn trọng.

"Nói khéo" không phải "nói vòng". Ngược lại, cách nói nhiều lớp, nhiều lời mở đầu của một số người gốc Bắc có khi bị người Nam cho là vòng vo. Đây cũng chỉ là khác biệt phong cách.

Cùng một từ, nghĩa khác nhau. Có những từ hai miền dùng với nghĩa khác: "ốm" với người Bắc là bệnh, với người Nam là gầy; "hòm" với người Bắc là cái rương, với người Nam thường chỉ quan tài. Dùng nhầm có thể gây khó xử, nhất là trong đám hiếu hỷ. Người lớn tuổi trong vùng đã quen, nhưng người mới đến nên để ý.

Giọng Quảng không phải đang giận. Giọng Quảng có ngữ điệu mạnh, người không quen nghe dễ tưởng người nói đang bực. Nghe lâu sẽ thấy đó là giọng tự nhiên.

Đùa bằng giọng vùng miền dễ làm mất lòng. Nhại giọng người khác dù vui vẻ vẫn có thể làm người ta khó chịu, nhất là với người lớn tuổi đã trải qua những năm đầu khó khăn khi mới đến. Nên tránh.

Người mới đến: học cách nghe trước khi học cách nói

Người mới chuyển về Hàng Gòn thường lo không hiểu giọng người địa phương. Thực tế, giọng miền Đông khá dễ nghe với người cả nước; khó hơn là giọng của một số người lớn tuổi gốc Bắc, gốc Trung còn giữ đậm. Cách tốt nhất là nghe nhiều, không ngại hỏi lại, và để ý những từ địa phương lặp lại trong các câu chuyện ở chợ, ở quán.

Không cần đổi giọng của mình. Người Hàng Gòn quen với sự đa dạng, không ai đòi người mới phải nói giọng Nam. Điều người ta để ý hơn là thái độ: chào hỏi, xưng hô đúng mực, biết lắng nghe. Một người nói giọng khác hẳn nhưng lễ phép, chân thành vẫn được quý hơn người nói đúng giọng mà xấc xược.

Với trẻ em mới chuyển trường về đây, việc đổi giọng diễn ra rất nhanh, có khi chỉ sau một vài học kỳ. Phụ huynh muốn giữ giọng quê cho con thì cứ trò chuyện với con bằng giọng quê ở nhà; trẻ hoàn toàn có thể dùng hai giọng song song như nhiều bạn cùng lứa gốc Bắc ở Hàng Gòn đã làm.

Người lớn tuổi mới chuyển đến, như ông bà theo con cháu về sống, thường khó đổi giọng hơn và cũng không cần đổi. Điều giúp họ hoà nhập là tìm được bạn cùng lứa trong xóm, cùng đi chợ, đi lễ, ngồi quán nước buổi sáng. Sau vài tháng, chuyện giọng nói không còn là trở ngại.

Giọng nói và bản sắc của vùng di dân

Sự đa dạng giọng nói ở Hàng Gòn không phải là dấu hiệu của sự rời rạc mà là dấu ấn của một vùng đất được nhiều người cùng dựng nên. Mỗi giọng mang theo một câu chuyện: con đường vào Nam, những năm khai hoang, ký ức về quê cũ. Khi người già nói giọng quê, họ đang giữ một phần ký ức ấy sống.

Theo thời gian, sự pha trộn sẽ tiếp tục, giọng miền Đông có lẽ sẽ trở thành giọng chung của hầu hết người trẻ. Nhưng nhiều từ địa phương, cách xưng hô, câu nói đặc trưng của các nhóm vẫn sẽ ở lại trong tiếng nói của vùng, như những lớp trầm tích.

Với người tìm hiểu quê hương, ghi âm giọng kể của ông bà, ghi lại những từ ngữ nghề nghiệp đang mất dần, là việc nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn. Mai sau, đó sẽ là tư liệu để con cháu biết tổ tiên mình nói gì, nói thế nào, trên mảnh đất đỏ này.

Câu hỏi thường gặp

Người Long Khánh nói giọng Nam hay giọng Bắc?

Phần lớn người trẻ ở Long Khánh nói giọng Nam Bộ miền Đông. Ở các xóm có nhiều gia đình gốc Bắc, người lớn tuổi còn nói giọng Bắc, và có nhiều người gốc miền Trung giữ giọng quê. Vì vậy câu trả lời đúng là cả hai, cùng với giọng miền Trung.

"Vô mùa" nghĩa là gì?

Trong cách nói của nhà vườn, "vô mùa" là lúc trái bắt đầu chín rộ, mùa thu hoạch chính đã đến. Ngược lại, "cuối mùa" là khi trái thưa dần, "nghịch mùa" hay "trái vụ" là khi cây cho trái ngoài mùa chính, thường nhờ biện pháp xử lý ra hoa.

Ở Hàng Gòn gọi người lớn tuổi là gì cho lịch sự?

Với người cao tuổi, gọi "ông", "bà" là an toàn. Với người ngang tuổi cha mẹ, gọi "chú", "cô" hoặc "bác" nếu biết họ lớn hơn cha mẹ mình, nhất là với người gốc Bắc. Nếu không chắc, cứ hỏi lại một cách nhẹ nhàng, người ta sẽ vui vẻ chỉ.

Có nên cố nói giọng địa phương khi mới đến không?

Không cần. Nói giọng của mình một cách rõ ràng, lễ phép là đủ. Cố bắt chước giọng địa phương khi chưa quen dễ thành nhại giọng, có thể gây khó chịu. Dùng từ địa phương như "trái", "chén", "ly" khi nói chuyện thì tự nhiên và được quý.

Trẻ em gốc Bắc ở Hàng Gòn có còn nói được giọng Bắc không?

Một phần có, nhất là ở những gia đình mà ông bà, cha mẹ nói giọng Bắc trong nhà. Nhiều em nói giọng Bắc ở nhà và giọng Nam ở trường. Tuy vậy, phần lớn thế hệ trẻ đã nói giọng Nam là chính, chỉ giữ vài từ xưng hô trong nhà.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.