Long Khánh có nhiều người nói giọng Bắc vì vùng này đón ít nhất hai đợt người miền Bắc lớn: lớp phu cao su thời Pháp và đợt di cư năm 1954, sau đó còn người đi kinh tế mới sau 1975. Ở Hàng Gòn, những gia đình gốc Bắc phần lớn đến từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng như Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hải Dương, mang theo nếp làng và giữ khá bền qua ba thế hệ.
Bài này không kể lại lịch sử di cư như một sự kiện chính trị mà nhìn vào đời sống: giọng nói còn hay mất, nếp làng nào sống sót trên đất đỏ, món ăn nào vẫn có trên mâm, và thế hệ cháu chắt đang đứng ở đâu giữa hai miền.
Đến theo xóm, ở theo xóm
Điểm khác biệt lớn nhất của người Bắc di cư năm 1954 so với người đi lẻ là họ đi theo cộng đồng. Cả một giáo xứ, một làng, một họ đạo dắt nhau vào, được bố trí đất ở cùng một khu. Vào đến nơi, việc đầu tiên thường là dựng nơi sinh hoạt chung, sau đó mới chia đất làm nhà. Vì thế các xóm Bắc ở vùng Long Khánh – Xuân Lộc thường có hình dáng rõ: một công trình chung ở giữa, nhà ở bao quanh, rồi rẫy và vườn ra ngoài.
Ở cùng nhau giúp họ giữ được nhiều thứ mà người đi lẻ dễ mất: giọng nói, lệ làng, cách tổ chức đám cưới, đám tang, lịch lễ trong năm. Người trong xóm biết rõ nhà nào gốc làng nào ngoài Bắc, ai là bà con xa với ai. Đến nay, ở một số xóm, người ta vẫn gọi nhau theo tên làng cũ hoặc tên giáo xứ cũ.
Mặt trái là các xóm này từng khá khép kín, con cái lấy vợ lấy chồng trong xóm nhiều. Từ thế hệ thứ hai trở đi, đi học, đi làm xa, chuyện khép kín đã giảm rõ.
Cũng cần nói rằng không phải người Bắc nào ở Long Khánh cũng đến theo xóm. Những người làm phu cao su từ trước, những người vào sau 1975 theo diện kinh tế mới hay theo người quen thường đi lẻ, sống xen với người Nam, người Trung. Nhóm này hoà nhập nhanh hơn, giọng nói đổi sớm hơn, nhưng vẫn giữ được bàn thờ ông bà, ngày giỗ và vài món ăn quê. Khi nói "người Bắc ở Hàng Gòn", vì vậy, bạn đang nói về cả hai kiểu: người đi theo cộng đồng và người đi một mình.
Giọng nói qua ba thế hệ
Thế hệ ông bà. Người vào Nam khi đã trưởng thành giữ gần như nguyên giọng quê, kể cả những từ địa phương rất riêng của từng tỉnh. Người Nam Định, Thái Bình nghe nhau nói có thể đoán được quê nhau.
Thế hệ cha mẹ. Sinh ra hoặc lớn lên trong xóm, thế hệ này thường nói hai giọng: ở nhà, trong xóm nói giọng Bắc; ra chợ, đi làm, nói chuyện với người ngoài thì chuyển sang giọng Nam hoặc giọng pha. Chuyển qua lại rất tự nhiên, nhiều người không để ý mình đang đổi giọng.
Thế hệ con cháu. Đi học trường chung, xem phim, chơi với bạn bè ngoài xóm, phần lớn trẻ em gốc Bắc ở Hàng Gòn nói giọng Nam, chỉ còn vài từ xưng hô trong nhà như "u", "bầm", "thầy" hay cách gọi "bác", "chú", "cô" theo lệ Bắc. Một số gia đình chủ ý giữ giọng Bắc cho con, nhưng không nhiều.
Từ vựng lẫn lộn. Hệ quả thú vị là cùng một gia đình có thể dùng "cái bát" lẫn "cái chén", "quả" lẫn "trái", "ngô" lẫn "bắp". Người ngoài nghe tưởng lộn xộn, người trong nhà hiểu ngay.
Nếp làng còn giữ: giỗ họ, hội đoàn, lệ hiếu hỷ
Thứ bền nhất trong nếp sống người Bắc ở đây không phải giọng nói mà là lệ hiếu hỷ và giỗ chạp. Giỗ họ được tổ chức theo ngày quê cũ, con cháu các nơi về đông đủ, có văn khấn, có mâm cỗ theo kiểu Bắc. Ở nhiều nhà, mâm cỗ giỗ vẫn phải có giò lụa, nem rán, canh măng, xôi gấc vào dịp đặc biệt, dù hàng ngày đã ăn cơm kiểu Nam.
Các hội đoàn trong xóm, gắn với nơi sinh hoạt chung, đảm nhiệm nhiều việc mà ở nơi khác do gia đình tự lo: phân công nấu nướng khi có đám, khiêng quan tài, đọc kinh hoặc tụng niệm, giúp đỡ nhà neo đơn. Đây là mạng lưới tương trợ rất mạnh, giải thích vì sao một đám tang ở xóm Bắc có thể huy động cả trăm người giúp việc mà không ai phải thuê.
Lệ đám cưới cũng mang dấu Bắc: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi với tráp, đón dâu có trưởng đoàn hai họ phát biểu. Người miền Nam ở cạnh lâu năm cũng dần theo một phần lệ này, và ngược lại người Bắc cũng tiếp nhận những tục của người Nam như tiệc cưới đông, mời cả xóm.
Từ ruộng lúa sang vườn cây: người Bắc thành nhà vườn
Người Bắc vào đây phần lớn quen trồng lúa nước, trong khi đất đỏ Long Khánh là đất đồi thoát nước nhanh, không hợp làm ruộng. Những năm đầu, nhiều nhà làm lúa rẫy, trồng bắp, khoai mì, đậu, chăn nuôi heo gà. Dần dần họ học trồng cao su tiểu điền, tiêu, cà phê rồi cây ăn trái. Khả năng tổ chức và tính chịu khó của các xóm Bắc giúp họ đi khá nhanh trong chuyện chuyển đổi cây trồng.
Một nét đáng chú ý là người Bắc giữ thói quen làm vườn rau quanh nhà rất kỹ: rau muống, rau dền, rau ngót, mồng tơi, tía tô, kinh giới, rau thơm kiểu Bắc. Đến mùa, nhà nào cũng có hũ cà muối, vại dưa cải. Nếu bạn để ý vườn quanh nhà ở một xóm, chỉ cần nhìn mấy luống rau là đoán được chủ nhà gốc ở đâu.
Tính tiết kiệm, để dành cũng là chuyện người trong vùng hay nhắc khi nói về người Bắc. Đây là nhận xét chung, có thật trong nhiều nhà nhưng không đúng cho mọi người, nên nên nghe như một câu chuyện văn hoá chứ không phải một định kiến.
Những gì còn, những gì đã đổi
So sánh nhanh nếp sinh hoạt của gia đình gốc Bắc ở Hàng Gòn giữa thế hệ đầu và thế hệ hiện nay, theo quan sát chung:
| Khía cạnh | Thế hệ đầu | Thế hệ hiện nay |
|---|---|---|
| Giọng nói | Giọng quê nguyên vẹn | Phần lớn giọng Nam, giữ vài từ xưng hô |
| Bữa ăn hằng ngày | Cơm, canh, cà muối, rau luộc | Pha trộn: hủ tiếu, bánh mì, cơm tấm cùng món Bắc ngày giỗ |
| Giỗ họ | Theo đúng lệ làng cũ | Vẫn giữ, gọn hơn, con cháu ở xa về |
| Hôn nhân | Chủ yếu trong xóm, cùng quê | Rộng, lấy người mọi miền |
| Nghề | Làm rẫy, làm vườn, công nhân | Vườn trái cây, buôn bán, đi làm khu công nghiệp, văn phòng |
| Nhà cửa | Nhà ngói ba gian, sân gạch | Nhà ống, nhà mái thái, giữ gian thờ ở giữa |
Dòng "giữ gian thờ ở giữa" là thứ bền nhất: nhà xây mới thế nào thì gian giữa vẫn để bàn thờ ông bà, đúng tinh thần nhà Bắc.
Đi thăm một xóm Bắc thế nào cho phải
Nếu bạn là người ngoài muốn tìm hiểu, cách tốt nhất là đi vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, khi người lớn tuổi ra sân, ra vườn. Chào trước, hỏi chuyện vườn tược, chuyện quê cũ, người lớn tuổi ở đây thường sẵn lòng kể. Tránh hỏi thẳng những chuyện đau lòng của thời di cư nếu người ta không tự nhắc đến.
Vào nơi sinh hoạt chung của xóm, dù là nhà thờ, chùa hay đình, ăn mặc kín đáo, giữ im lặng khi có nghi lễ, không chụp ảnh người đang cầu nguyện. Nếu xóm đang có đám tang, đừng đi ngang chụp ảnh. Những phép lịch sự này áp dụng cho mọi xóm, không riêng xóm Bắc.
Bạn cũng đừng đóng khung: người gốc Bắc ở Hàng Gòn hôm nay đã là người Đồng Nai, người Nam Bộ. Hỏi họ "anh chị người Bắc hay người Nam" có khi nhận được câu trả lời "người Long Khánh".
Nếu đi tìm hiểu để viết hoặc làm tư liệu, hãy xin phép trước khi ghi âm, quay phim. Người lớn tuổi thường kể rất nhiều chi tiết về con đường vào Nam, về những năm đầu khai hoang; những câu chuyện ấy có giá trị, nhưng cũng là chuyện riêng của gia đình họ. Gửi lại bản ghi, tấm ảnh cho gia đình sau khi làm xong là cách đáp lễ được quý trọng.
Bữa cơm, mùi tương và những thứ khó bỏ
Hỏi người gốc Bắc ở Hàng Gòn món gì nhắc đến quê nhiều nhất, câu trả lời hay gặp là cà muối, dưa cải, tương bần, rau muống luộc chấm nước tương, canh cua rau đay. Những món này rẻ, dễ làm, nhưng muốn ngon phải đúng nguyên liệu và đúng tay. Rau đay, cua đồng ở vùng đất đỏ không dễ kiếm như ở đồng bằng, nên nhiều nhà tự trồng rau đay trong vườn, mua cua ở chợ có người mang từ vùng trũng lên.
Tương là thứ đáng nói riêng. Nhiều nhà gốc Bắc vẫn tự làm tương từ gạo nếp, đậu nành theo cách quê cũ: ủ mốc, phơi nắng, ngâm trong chum. Nắng Đông Nam Bộ mạnh và đều nên mẻ tương lên men nhanh hơn ở miền Bắc, người làm phải điều chỉnh lượng muối và thời gian phơi. Mùi tương phơi ngoài sân vào những ngày nắng gắt là một trong những dấu hiệu dễ nhận của các xóm này.
Vào ngày Tết, bánh chưng là món không thể thiếu. Nhiều nhà vẫn gói bánh chưng vuông theo khuôn, luộc bằng nồi lớn trên bếp củi cả đêm, trong khi hàng xóm người Nam gói bánh tét. Có nhà gói cả hai để biếu hàng xóm, coi như một cách giữ quan hệ.
Thế hệ thứ ba: đứng giữa hai miền
Những người trẻ gốc Bắc sinh ra ở Hàng Gòn hôm nay phần lớn coi mình là người Đồng Nai. Họ học ở trường trong phường, lên Biên Hoà hoặc TP.HCM học đại học, đi làm ở khu công nghiệp hay văn phòng. Họ ăn hủ tiếu buổi sáng, uống cà phê sữa đá, nói giọng Nam. Phần Bắc trong họ chủ yếu nằm ở bữa cỗ ngày giỗ, ở những từ xưng hô trong nhà và ở các câu chuyện ông bà kể.
Nhiều người trẻ có xu hướng quay lại tìm hiểu gốc gác khi lớn lên: hỏi ông bà về làng cũ, tham gia việc họ, tìm về quê ngoài Bắc một lần cho biết. Một số dòng họ đã lập sổ ghi gia phả, ghi rõ ai vào Nam năm nào, ở xóm nào, để con cháu sau này còn biết.
Ở góc độ văn hoá, đây là quá trình hoà nhập bình thường của một cộng đồng di cư. Nó không làm mất đi bản sắc mà biến bản sắc thành một lớp trong căn tính chung của người Hàng Gòn, nơi mà gốc Bắc, gốc Trung, gốc Nam sống cạnh nhau đủ lâu để không còn ai thấy lạ.
Câu hỏi thường gặp
Người Bắc ở Long Khánh chủ yếu theo đạo gì?
Đợt di cư 1954 có tỷ lệ người Công giáo cao, nên nhiều xóm Bắc ở vùng Long Khánh – Xuân Lộc là xóm đạo. Tuy vậy, cũng có nhiều gia đình gốc Bắc theo đạo Phật hoặc chỉ thờ cúng ông bà, nhất là những người đến theo các đợt khác. Không nên mặc định mọi người gốc Bắc là người theo đạo.
Có xóm nào ở Hàng Gòn toàn người Bắc không?
Trước đây có những khu tập trung người cùng quê gốc, nhưng qua mấy chục năm mua bán đất, cưới hỏi, người mới chuyển đến, các xóm đã pha trộn. Nói "xóm Bắc" hôm nay là nói nơi có nhiều gia đình gốc Bắc và giữ nếp sinh hoạt Bắc, không phải nơi chỉ có người Bắc.
Muốn ăn món Bắc chuẩn ở Hàng Gòn thì tìm ở đâu?
Món Bắc ngon nhất thường nằm trong nhà, vào ngày giỗ, ngày Tết. Ngoài hàng quán, bánh cuốn, bún riêu, phở, xôi, giò chả khá phổ biến ở vùng Long Khánh. Trang có bài riêng về món ăn gốc Bắc trong danh mục ẩm thực.
Người gốc Bắc ở đây còn về quê cũ không?
Thế hệ ông bà và một phần thế hệ cha mẹ vẫn về quê thăm họ hàng, nhất là dịp giỗ tổ họ, xây lăng mộ. Thế hệ trẻ thì ít hơn, nhiều người chưa từng về. Một số dòng họ có quỹ chung, cử người về quê lo việc họ.
Có nên gọi người gốc Bắc ở Hàng Gòn là "dân Bắc 54"?
Cách gọi này có trong dân gian, nhưng nhiều người không thích vì nó gắn họ với một mốc chính trị và tách họ khỏi cộng đồng chung. Gọi là người gốc Bắc, hoặc đơn giản là người Long Khánh, người Hàng Gòn, lịch sự hơn.